THẢ THƠ LÊN TRỜI TÌNH NGƯƠI... XA XÓT

By

 

Đây là bài viết đã đăng trên báo VĂN NGHỆ số ra ngày 28 - 2 - 2009.
Tôi pót lên Blog vì bài gửi đăng ở báo bị biên tập một vài chỗ làm mất đi khẩu khí tranh luận. Mời các bạn cùng đọc.



THẢ THƠ LÊN TRỜI TÌNH NGƯỜI ... XA XÓT

(Nhân đọc bài Chọn thơ sai để ... thả

 trong ngày thơ Việt Nam)


Preview



         Chúng tôi đọc được bài viết của Phạm Khải trên Website Công an nhân dân với tiêu đề: Chọn thơ sai để thả... trong ngày thơ Việt Nam. Bài báo của Phạm Khải với tiêu đề chỉ đưa ra một nội dung nhưng trong bài viết có đến ba ý: a/ chọn thơ sai; b/ thơ được chọn dở; c/ kiến nghị nên có cách chọn khác trong các ngày thơ tiếp theo.

Là những người được Ban tổ chức Hội thơ năm nay mời chọn 50 câu thơ hay để đọc rồi thả lên trời chúng tôi định không trả lời bằng bài báo này vì nó không đáng song để cho đọc giả hiểu rõ và sòng phẳng hơn chúng tôi bàn bạc và xin được nói rõ những điều sau về vấn đề bài báo Phạm Khải đã nêu.

Thứ nhất chúng tôi và nhiều Hội viên Hội nhà văn cũng như công chúng đều thừa nhận rằng việc chọn 50 câu thơ hay để đọc rồi thả lên trời là một cách làm hay và ấn tượng không những để tôn vinh thơ mà còn làm cho ngày Hội thơ thêm hứng thú đẹp mắt và thăng hoa. Năm nay là lần thứ VII 50 câu thơ đã được thả lên trời như vậy qua VII lần Hội thơ diễn ra đã có 350 câu thơ hay được tôn vinh và thả lên trời. Đó là một con số có ý nghĩa!

Năm nay theo sáng kiến của Ban tổ chức ngày thơ có đổi mới về nội dung là tổ chức có chủ đề: Kỉ niệm 40 năm Bác Hồ đã đi xa; 50 năm Đường Trường Sơn; Hướng tới 1000 năm Thăng Long. Vì vậy có đến 20 bài thơ về Trường Sơn được in trang trọng trên poster dựng ở Văn Miếu những bài hát bài thơ viết về Bác Hồ về Trường Sơn được trình bày trong Hội thơ những câu thơ hay về Bác Hồ về Trường Sơn được chọn để thả thơ gây được xúc động mạnh trong lòng người đến dự là một thành công mà ai cũng ghi nhận. Xuất phát từ cách làm mới Hội thơ năm nay chắc chắn trong những năm sau Hội thơ sẽ có đà khởi sắc!

More...

PHÊ BÌNH

By

PÀ CON ƠI! TUI BỊ "ĐÁNH"...

Tui có bài thơ GỬI NHÀ THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ đăng trên Tạp chi Nhật Lệ (Quảng Binh) tháng 10 - 2008. Khi bài thơ ra đời có một tác giả tên là Việt Thành (về hưu) viết bài "đánh" trên báo Quảng Bình. Đọc bài viết đó tui im lặng vì biết ông Việt Thành không phải là người để tui "phản kích". Nhưng hiềm một nỗi Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình sắp Đại hội nhiệm kỳ bầu bán chủ tịch phó chủ tịch Hội. Mục đích bài báo pà con đọc thì sẽ ngửi thấy ngay động cơ. Tui ở Hà Nội coi đó là chuyện vặt song ở tỉnh lẻ cái tỉnh mà Dương Thu Hương lấy bối cảnh viết truyện ngắn Những vĩ nhân tỉnh lẻ thì... kinh khủng lắm. Tui pót mất bài lên để pà con... nhâm nhi thưởng thức hương vị ... nhà quê!
 

             

Trao đổi về một bài thơ đăng trên tạp chí Nhật Lệ số tháng 10-2008
        
MỘT SỰ TÂNG BỐC KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN
 
        Trên trang 33 Tạp chí Nhật Lệ số tháng 10-2008 có đăng bài thơ "Gửi nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ của tác giả Trần Quang Đạo. Bài thơ mở đầu bằng hai câu Quảng Bình có võ tướng văn nhân/Nếu không có chị chỉ còn một nửa! . Tôi đọc tiếp "Bởi chị là Quảng Bình/Chị nhìn thấy khoảng trời hố bom mà không ai thấy được . Câu thơ này làm tôi nhớ lại hồi năm 1972 khi ta mở chiến dịch Quảng Trị địch đã dùng máy bay B52 liên tục rải thảm bom tạ bom tấn đánh bay mất nhiều đoạn đường Trường Sơn hòng cắt đứt tuyến vận chuyển hàng tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Thời kỳ ấy có khá nhiều văn nghệ sĩ đi phục vụ tiền tuyến từng chịu những trận B52 đó nhưng nào có thấy mấy tác phẩm tìm được lời đẹp nói về con người tuyệt đẹp như bài Khoảng trời hố bom" của Lâm Thị Mỹ Dạ. Xin trích lại một số câu hay "Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em/Mưa đọng một khoảng trời nho nhỏ... Em nằm dưới đất sâu/Như khoảng trời đã nằm yên trong đất/Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng/Những vì sao ngời chói lung linh/Có phải thịt da em mềm mại trắng trong/Đã hóa thành những làn mây trắng? . Mỹ Dạ vốn dịu dàng thùy mị đã có cái nhìn rất mới về sự hy sinh rất bình dị mà rất đỗi anh hùng của cô thanh niên xung phong rất trẻ làm cho bài thơ có một sức gợi cảm đau thương rất sâu sắc. Nhà thơ lớn Hoài Thanh đã từng nói Có thể xem đó là một đài liệt sĩ bằng thơ. Bằng thơ và đẹp như thơ .

       Vì vậy trong cuộc thi thơ 1972 - 1973 của Tuần báo Văn nghệ chị là một trong 4 nhà thơ có tác phẩm được tặng thưởng giải nhất: Lâm Thị Mỹ Dạ Nguyễn Duy Nguyễn Đức Mậu và Hoàng Nhuận Cầm.

       Những áng thơ thời chiến nóng bỏng cứ nguôi dần theo năm tháng dài thời bình. Và cũng đã 35 năm chị Mỹ Dạ xa mảnh đất đầy hố bom. Nhưng võ tướng văn nhân Quảng Bình vẫn cứ tăng lên đều đều cả quân hàm và tác phẩm văn thơ. Không hiểu sao tác giả Trần Quang Đạo lại nói vậy?. Xin nói rõ trong 25 năm qua đã có gần 20 chiến binh quê ở Quảng Bình được thăng lên quân hàm trung tướng và thiếu tướng; Quảng Bình cũng không ít văn nhân và nhiều tác phẩm tên tuổi.

       Tác giả Quang Đạo dùng phương pháp so sánh nhưng không định rõ mốc thời gian làm cho độc giả hiểu cách nào cũng được. Chẳng hạn Quảng Bình có bát danh hương nổi tiếng về khoa bảng thời phong kiến gồm 44 vị đỗ đại khoa và 270 vị đỗ cử nhân. Thời ấy chị Dạ chưa sinh. Và từ sau ngày thống nhất nước nhà chị không sống ở Quảng Bình nữa nhưng chưa phát hiện được võ tướng văn nhân nào xuống cấp cả về số lượng và chất lượng. Ban đọc dễ dàng thông cảm một bài thơ không thể viết rạch ròi như báo cáo thống kê. Nhưng cũng không thể lợi dụng chữ nghĩa thơ hàm súc thâm thúy để tâng bốc thành thần tượng tiêu biểu cho một vùng đất: Chị là Quảng Bình (làm sao chị là tượng trưng cho một tỉnh). Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đọc đến câu thơ tâng bốc mình quá đáng hẳn phải giật mình và buồn phiền bởi "thương nhau kiểu ấy bằng mười hại nhau . Bài thơ "Khoảng trời hố bom đã thành tác phẩm văn học có giá trị cao trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước của cả nước người đọc không cần biết Lâm Thị Mỹ Dạ quê ở đâu.

      Cũng cần nhấn mạnh sáng tạo ra tác phẩm văn học là quyền tự do sáng tác của nhà văn nhưng tác phẩm ấy có phát hành đến rộng rãi bạn đọc lại phải qua nhiều khâu quản lý xuất bản của cơ quan Nhà nước. Bài thơ Gửi nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ của Trần Quang Đạo sáng tác từ tháng 9-2007 có những quan điểm lệch lạc xúc phạm đến võ tướng văn nhân Quảng Bình thế mà Tạp chí Nhật Lệ vẫn cho đăng trên tạp chí số 10-2008 gây nên sự bàn luận không hay trước thềm Đại hội văn học nghệ thuật Quảng Bình lần thứ IX (2008-2013).

Việt Thành

-------------------------------------------------
(Chú thích của HVT:    Nguyên văn(kể cả lỗi vụn vặt xiên đứng...) về : Bài báo của Việt Thành
Báo Quảng Bình số 225(5972) thứ hai 10-11-2008
  


          
 

ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ

" GỬI NHÀ THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ"
CỦA TRẦN QUANG ĐẠO


Quảng Bình có võ tướng văn nhân

Nếu không có chị chỉ còn một nửa !


Chị vẫn còn giữ nguyên những nét năm nao

cá trên sông Kiến Giang ghen tuông quẫy lên bờ chết hạn

bởi mái tóc như sông.


Em đã nghe thao thức những tấm lòng

những viên gạch xếp hàng dài trong đội ngũ

rồi họ dong cờ trắng !


Bởi chị là Quảng Bình

chị nhìn thấy khoảng trời hố bom mà không ai thấy được

mọi người soi cùng ngưỡng mộ bao phần.


Bao nhiêu người yêu chị

yêu chất đàn bà yêu sự cả tin

nhưng chị vẫn Quảng Bình mà không ai hiểu hết.


Em một mình hoang dại kiếp sau !


                                 
16 - 9 - 2007


     
Trần Quang Đạo là một nhà thơ quê ở Quảng Bình hiện sống và làm việc ở Hà Nội. Anh là cây bút đa năng : làm thơ viết tiểu thuyết viết truyện dài nhiều tập viết  phê bình tiểu luận...Những tập thơ mới đây của anh như Luân khúc Ngọn cỏ thời yêu nhau   Khúc biến tấu xương rồng...gây được sự chú ý của bạn được khắp nơi trong nước. Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật đá có những nhận xét khá tinh tế về  "Biến tấu nghệ thuật trong thơ Trần Quang Đạo" in trên báo Văn nghệ. Thơ Trần Quang Đạo hàm súc giàu chất suy tưởng vì vậy mà việc tiếp nhận thơ anh không dễ dàng chút nào. Tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần để có thể nắm bắt được ý tưởng mà nhà thơ muốn gửi gắm trong đó. Thú thật khi mới đọc hai câu thơ mở đầu trong bài Gửi nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ tôi cũng hơi giật mình : Quảng Bình có võ tướng văn nhân / Nếu không có chị chỉ còn một nửa. Và tôi cũng thầm nghĩ Trần Quang Đạo đã đề cao hơi quá đáng nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Nhưng khi đọc kĩ toàn bộ bài thơ tôi mới vỡ lẽ là Trần Quang Đạo chỉ mượn nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ để nói đến cốt cách Quảng Bình con người Quảng Bình thiên nhiên Quảng Bình mà anh vô cùng yêu mến và tự hào. Những người con vì hoàn cảnh này hoàn cảnh khác mà phải sống xa quê nhưng vẫn luôn nghĩ về quê hương luôn nuôi lòng tự hào về nơi chôn nhau cắt rốn của mình : Đã từng uống rượu trăm miền / vẫn không quên được chất men quê nhà.

More...

PHÊ BÌNH

By

 

Đến với bài thơ hay:

QUA PHỐ NHÀ EM








Một lần đi qua phố Nam Ngư
Chợt gặp em từ trên gác nhỏ
Đôi tay mềm đang hong nắng
Những sợi len xanh như sắc biếc
mùa thu !


Em chẳng biết đâu
Anh thoáng thấy nụ cười
Nở từ trên ban công ấy
Ôi nụ cười như bao giờ cũng vậy
Một bông hồng chúm chím
vành môi !


Phố nhà em từ đó em ơi
Cứ xẻ thẳng
vào tim anh
Rạo rực !


Kiều Anh Hương


Lời bình của người yêu thơ:


               Ta "đụng" ngay lý do trong muôn ngàn lý do làm nảy sinh tứ thơ của thi nhân: "Một lần đi qua phố Nam Ngư/ Chợt gặp em từ trên căn gác nhỏ". Ô hay sao cái chàng thi nhân này đi đường không chịu nhìn đường lại nhìn vu vơ để cái nhìn của mình "đậu" vào "đôi tay mềm đang hong nắng" của một người đẹp trên ban công căn gác nhỏ? Bao nhiêu thứ đáng nhìn mà chỉ thấy và phát hiện ra người đẹp thì đó đích thị là căn bệnh thâm căn cố đế có tên là "đa tình" của thi nhân! Thói đa tình của nhà thơ thường để lại cho đời nhiều thi phẩm họăc thi thoại lý thú không phải chỉ để "mua vui một vài trống canh" mà còn ghi được dấu ấn trong tâm cảm sâu sắc nơi bạn đọc. Như ở trường hợp của Kiều Anh Hương trong bài thơ này chính là sự phát hiện ra người vừa đẹp người (đôi tay mềm) vừa đẹp nết (hong nắng/ Những sợi len xanh). Sự chú ý của thi nhân quả là có lý bởi đối tượng thẩm mỹ được đưa ra có một phẩm chất đáng quý mà không một chàng trai nào không chú ý và ghi nhớ vào lòng. Vì thế thi nhân có thể sao lãng/ bỏ qua nội quy giao thông để tâm hồn mình chìm đắm vào "sắc biếc mùa thu" của những sợi len xanh trên tay người đẹp đang hong nắng như một sự ban tặng bất ngờ của cuộc sống!

Từ "sự thu nhận ban đầu" ấy thi nhân được những sự ban tặng vô tình nơi người đẹp: "nụ cười/ Nở trên ban công ấy". Và nụ cười của nàng cũng có một phẩm chất thật đặc biệt: "Một bông hồng/ chúm chím làn môi". Nụ cười như bông hoa hồng chúm chím hình như đâu đó có người đã ví song ở trường hợp Kiều Anh Hương tôi thấy nó thật có lý khi đặt đúng chỗ với một chủ đích mà tôi đồ rằng chàng đã tưởng tượng thêm. Bởi chàng chỉ đi qua mới nhìn thấy nàng trên ban công; còn nàng không nhìn thấy chàng nụ cười nàng cũng không dành cho chàng thế mà chàng lại "cả gan" khẳng định: "Ôi nụ cười bao giờ cũng vậy" thì cái sự nhận vơ của những nhà thơ thật là đáng yêu! Từ đó ta có thể nói rằng cái sự cảm mến xúc động ban đầu đã khơi gợi để rồi hiện diện trong thi nhân hình ảnh đẹp đẽ thánh thiện của người đẹp có lý do làm cho trái tim chàng "rung chấn".

Phố Nam Ngư chàng đi qua. Chắc chắn sau lần đó chàng sẽ quay trở lại. Nhưng hỡi ôi "bàn tay mềm hong nắng" "nụ cười" như "bông hồng chúm chím" không còn một lần được gặp lại được nữa. Chàng thi nhân đa tình thấy con phố nhà người đẹp ở "cứ xẻ thẳng/ vào tim anh". Nhà thơ Phạm Tiến Duật trong bài thơ Tiểu đội xe không kính khi ngồi trên xe vào mặt trận thấy "con đường chạy thẳng vào tim" có cái lý của anh. Còn Kiều Anh Hương lại có cái lý của riêng mình. Đó là nỗi đau của kẻ đa tình khi quay trở lại con đường đó hay trong nỗi nhớ về con đường đó đã không một lần được thấy lại người đẹp. Góp phần làm nên nỗi đau đó là nhjp đi của một câu thơ được ngắt thành 3 câu dứt khoát 3/3/2 như là vết xẻ của gió làm thi nhân "rạo rực". Nhà thơ hứng chịu nổi đau bằng sự thưởng thức "dư ba" của nó trong lòng lấy đó làm niềm vui bước tiếp trên con đường số phận mà thiên chức thi nhân đã "trói" chàng vào.

Bài thơ chỉ có ba khổ. Không cầu kỳ câu chữ. Nhưng cái hay ở đây được toát lên từ sự phát hiện từ ý từ tứ của nó trong một lôgíc hợp lý và bất ngờ. Cái con phố "có con đường xẻ thẳng vào tim" đã tạo tứ cho bài thơ vững chắc làm nó vút lên chở hình ảnh người đẹp và tâm hồn đa tình giàu tưởng tượng và nhân bản của nhà thơ đến với người đọc.

Vĩ thanh: Chàng thi sỹ họ Kiều học ở Trường đại học Bách Khoa. Một lần trong Hội thơ ở trường chàng đã đọc bài thơ này. Tiếng vỗ tay vang mãi. Bỗng có một người đẹp là sinh viên cùng trường đến xin chàng bài thơ đó và quả quyết rằng: "Bài thơ này anh đã viết về em". Hóa ra nhà nàng ở phố Nam Ngư. Nàng cũng có lần mùa thu ra hong những sợi len xanh trên ban công căn gác nhỏ. Một tình cảm nhen lên từ đó. Bây giờ thì tất cả đã xa. Song sự "rạo rực" còn đọng mãi...


                                                                                               
Trần Quang Đạo   

 

More...

THỬ TÌM HIỂU QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC CỦA NGUYỄN TRÃI QUA QUỐC ÂM THI TẬP

By

                                                       THỬ TÌM HIỂU

 QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC

     CỦA NGUYỄN TRÃI

           QUA QUỐC ÂM THI TẬP

                             Preview              TS. La Kim Liên                                                                                                                              

     Văn chương chân chính từ xưa đến nay luôn mang trong lòng tiếng nói đạo đức. Tiếng nói đó cất lên một cách trực tiếp hay nằm trong một sự ẩn dụ thì bao giờ cũng nhận ra được quan điểm của tác giả về đạo đức; nó cho ta thấy tác giả đứng trên lập trường quan điểm của giai cấp nào để cất lên tiếng nóinhững lời giáo huấn răn dạy mọi người.Trong ca dao những lời khuyên nhủ chân tình về tình yêu đồng loại hay những lời răn dạy về đạo đức xuất hiện khá nhiều. Ví dụ như: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” hay: “Anh em như thể tay chân/ Anh em hòa thuận hai thân vui vầy”... Thời kì Trung đại văn chương được sáng tác theo quan niệm “Văn dĩ tải đạo”. Đạo ở đây là đạo đức đạo làm người. Văn chương Việt Nam hiện đại cũng mang trong lòng tiếng nói đạo đức. Đạo đức được khái quát lên thành lí luận: Văn chương phải có tính giáo dục. Tố Hữu đã có bài thơ Tiếng ru khá đặc sắc để nói lên điều này.Tuy nhiên tuỳ theo tài năng của từng nhà thơ nhà văn mà tiếng nói đạo đức cất lên trong thơ văn của họ có giá trị văn chương và tác dụng giáo dục đến đâu cũng như tầm tư tưởng của nó lan xa bao nhiêu. Đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi chúng tôi thấy quan niệm đạo đức và những lời giáo huấn răn dạy của Ức Trai hết sức sâu sắc và sống động thể hiện một tư tưởng mới vượt thời gian đến tận hôm nay và mai sau.Trần Đình Hượu đã có một nhận xét sâu sắc về tư tưởng nhân sinh của Nguyễn Trãi: “Về hệ thống tư tưởng nhân sinh của Nguyễn Trãi vẫn thuộc Nho giáo nhưng là một Nho giáo khoáng đạt rộng rãi không câu nệ và vì vậy không chỉ là gần gũi mà còn là phong phú hơn cao hơn lối sống thuộc dân tộc trước đó”.* Nguyễn Thiên Thu cũng đã chỉ ra: “Ta cũng thấy rằng với Nguyễn Trãi mặc dầu ba tư tưởng Nho Lão Phật đã hòa điệu trong thi ca nhưng tư tưởng Nho giáo vẫn là tư tưởng ưu thế bởi vì Nguyễn Trãi là một Nho sĩ hơn là một đạo sĩ một thiền sư”.**
      Chúng tôi tán thành với những nhận định trên và thấy rằng tất cả tư tưởng Nho giáo và một thoáng tư tưởng Lão- Trang Phật giáo đã được Nguyễn Trãi thể hiện trong thơ ca một cách nhuần nhuyễn và sâu sắc. Chính vì vậy mà trong Quốc âm thi tập quan niệm đạo đức của Nguyễn Trãi được thể hiện cũng theo xu hướng đó. Nguyễn Trãi đã hình tượng hóa quan niệm đạo đức Nho giáo lên từng câu thơ bài thơ một cách tài tình. Ông phát biểu một cách rõ ràng quan niệm của mình: “Nhà ngặt ta bền đạo Khổng Nhan”. Và đạo Khổng với những quan niệm vốn có của nó với tư tưởng thiên mệnh trung dung tam cương ngũ thường đã được Nguyễn Trãi thể hiện khá rõ nét. Trước hết quan niệm thiên mệnh được Nguyễn Trãi đề cập một cách khéo léo và nhuần nhị bởi vì ông đã tin ở thiên mệnh- một niềm tin mà những nho sĩ luôn luôn tâm niệm trong lòng. Đó là niềm tin ở trời; trời có một cái lí vô hình nó làm chủ và quán xuyến tất cả mọi sự thay đổi trong xã hội loài người và vạn vật không gì có thể phủ nhận được. Người quân tử là người hiểu được nhiều thứ ắt phải tri thiên mệnh! Nguyễn Trãi đã có những câu thơ nói lên nhiều khía cạnh của mệnh trời. Trời sắp đặt mọi thứ từ số giàu sang hay nghèo nàn:Sang cùng khó bởi chưng trờiLăn lóc làm chi cho nhọc hơi.(Ngôn chí- bài 9)Lộc trời cho đã có ngầnTu hay thưở phận chớ có nàn. (Bảo kính cảnh giới- bài số 48)đến số mệnh con người cũng do trời quyết định:Vắn dài được mất dầu thiên mệnhChạy quấy làm chi cho nhọc nhằn.(Bảo kính cảnh giới- bài48)Chính từ chỗ đặt tất cả niềm tin ở trời như vậy nên Nguyễn Trãi sống ung dung tự tại để lại sau lưng mình mọi cám dỗ của cuộc sống không bao giờ bon chen danh lợi một cách không chính đáng. Và cũng chính đặt niềm tin ở trời như vậy nên quan niệm vua là con trời đã ăn sâu vào trong tâm trí của các  nhà nho nói chung và Nguyễn Trãi nói riêng. Vua thay trời hành xử mọi công việc ở trần thế nên mọi người phải tuân theo phải trung thành tuyệt đối với vua. Chính vì vậy Nguyễn Trãi có một quan niệm đạo đức như đinh đóng cột rằng phải trung với vua vì trung với vua là yêu nước là vì dân. Chúng ta dễ dàng nhận thấy lòng trung của Ức Trai được cụ thể hóa qua những hình tượng thơ khá phong phú và nhất quán:Hằng lấy đạo trung làm nghĩa cảQua ngày qua tháng được an nhàn.(Bảo kính cảnh giới- bài số 6)Làm người thì giữ đạo trung dungKhăn khắn dặn dò thuở lòng.(Tự giới)Nguyễn Trãi sống trong lòng chế độ phong kiến chịu sự chi phối của nó có nhiều lúc được hưởng ân huệ từ bầu sữa đó nên không thể không theo tư tưởng chính thống của nó. Vì thế một lẽ nữa làm cho Nguyễn Trãi thể hiện lòng trung là do ông đã chịu nhiều ơn của vua. Nguyễn Trãi đã nhiều lần nhắc đến ơn chúa:Có con mới biết ơn cha nặngDừng lộc thì hay nghĩa chúa nhiều.(Bảo kính cảnh giới- bài số 37)Khỏi triều quan mới hay ơn chúaSinh được con thì cảm đức cha.(Trần tình- bài số 3)Có những lúc Nguyễn Trãi còn cụ thể hóa lòng cảm ơn của mình xuống một tầng mức thấp hơn đấng bề trên để thấy được sự bền vững của nó trong một chế độ mà ông phụng sự:Ăn lộc nhà quan chịu việc quanChớ tham tiểu lợi phải gian nan.(Bảo kính cảnh giới- bài số 17)Đạo Khổng còn có những rường cột khác nữa là tam cương và ngũ thường. Nguyễn Trãi là một nhà nho chân chính nhưng là một nhà nho chính trị một nhà nho văn hóa một nhà nho thi sĩ... nên ông đã đem văn chương của mình truyền bá tư tưởng Nho giáo thông qua hệ thống quan niệm đạo đức của nó và cụ thể hóa nó bằng những lời răn dạy đạo đức qua mối quan hệ xã hội với những nguyên tắc khắt khe; qua mối quan hệ gia đình ràng buộc thứ bậc và bổn phận; qua đức tính con người với nhân nghĩa lễ trí tín... Đó là cả một bầu tâm sự và một sự gửi gắm đầy thân thiết đối với nhiều đối tượng con người trong xã hội.Tuy tư tưởng Nho giáo là tư tưởng chủ đạo để từ đó Nguyễn Trãi thể hiện quan điểm đạo đức của mình nhưng tư tưởng Lão- Trang và tư tưởng Phật giáo cũng được ông vận dụng để “kết hợp tư tưởng Nho gia và Lão- Trang để khái quát hóa lý luận hóa: lấy con người tự nhiên tự do tự tại làm cơ sở cho một thái độ sống vì đời làm việc thiện cho nhau có quan hệ đầm ấm với nhau đồng thời đảm bảo thú vui riêng không khắt khe lên án dục vọng một cách tôn giáo”.*** Nguyễn Trãi cũng đã hình tượng hóa tư tưởng Lão- Trang và tư tưởng Phật giáo vào trong những sáng tác của mình để nói lên tiếng nói răn dạy giáo huấn về đạo đức cho cộng đồng và cũng không ít khi là để răn mình. Nhưng có một điều hết sức đáng ghi nhận là khi Nguyễn Trãi “phổ cập” từng khía cạnh đạo đức trong những bài thơ thì những công thức những cái vỏ xơ cứng của lễ giáo mà đạo Nho đưa ra hoặc tư tưởng “thanh tĩnh vô vi” của Lão- Trang tư tưởng nhân quả của Phật giáo đã được ông dân gian hóa một cách tài tình bằng những hình tượng thơ gần gũi bằng cách nói thông thuộc hàng ngày của người dân. Nhưng tất cả đều mang tính triết lí sâu sắc sâu sắc mà dễ hiểu dễ nắm bắt và thực hiện. Đó là cái tài của Nguyễn Trãi sự vượt trội hơn người của ông được thể hiện ở đó!Quan niệm đạo đức của Nguyễn Trãi chịu sự chi phối tư tưởng mà ông theo đuổi. Tư tưởng của Nguyễn Trãi như chúng tôi đã nhận thấy và đưa ra ở trên không phải là một tư tưởng quá phức tạp. Trong Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi đã dành hẳn một phần lớn với 61 bài trong mục Bảo kính cảnh giới để chuyên nói về đạo đức. Ngoài ra các mục khác trong tập thơ cũng được ông đề cập về đạo đức không ít. Chúng tôi thấy tất cả những vấn đề về đạo đức mà Nguyễn Trãi quan tâm thể hiện trong Quốc âm thi tập nổi lên những điểm chính sau: Tự khuyên mình dặn dò mình; Khuyên người và dạy người; Khuyên nhủ dạy dỗ con cái; Đúc rút luân lí để lại cho đời sau.Nguyễn Trãi trước hết là tự khuyên mình và dặn dò lòng mình lấy đó làm điểm xuất phát để thể hiện hệ tư tưởng mà ông đi theo nhằm tạo cái gốc vững chắc từ đó mới nói được cho người khác nghe mà noi theo. Ông khuyên và răn mình hãy lấy chữ trung làm đầu; luôn “dặn dò” trong lòng mình điều đó. Ngoài chữ trung Nguyễn Trãi quan tâm nhiều đến chữ đức với nhiều góc độ: tích đức(Tích đức cho con hơn tích của- Hãy năng tích đức để cho con) nuôi dưỡng đức (Trồng cây đức để con ăn) so sánh và coi trọng đức hơn tài (Có đức thì hơn nữa có tài - Tài đức thì cho lại có nhân/ Tài thì kém đức một hai phần- Miễn đức hơn tài được mấy phân) giá trị của đức (Đạo đức lành ấy của chầy)... Cách đánh giá giá trị đạo đức của Nguyễn Trãi hết sức cụ thể mà cũng hết sức súc tích. Ông khuyên và răn mình mà cũng chính từ đó nó tỏa ra cho mọi người để vừa tạo sự đồng cảm và cao hơn là để mọi người học tập mình cùng trau dồi chữ đức cho bản thân. Sau chữ đức là phú quí giàu nghèo. Nguyễn Trãi là người không coi trọng vật chất. Ông coi trọng danh dự và sự giàu có về tâm hồn hơn là sự giàu có về tiền bạc. Bởi vì thứ nhất người quân tử là người trọng danh dự; thứ hai Nguyễn Trãi ý thức được của cải không phải là thứ làm cho con người trở nên sang trọng và có danh được; thứ ba của cải không thể đi theo người khi con người nhắm mắt xuôi tay. Nguyễn Trãi đã coi trọng sự giàu có về tâm hồn: “Phú qúi lòng hơn phú qúi danh” coi vợ con là giá trị lớn trong cuộc đời hơn hẳn mọi sự giàu có về vật chất:”Già mặc số trời đát/ Giàu ai qua vợ con”. Vì vậy mà ông coi những người giàu có không có con ngoan hiền cũng trở nên vô danh: “Của nhiều sinh chẳng được con hiền/ Ngày tháng công hư chực lỗ tiền”. Bởi vì Nguyễn Trãi thấy rõ hào phú là “Bất nhân vô số nhà hào phú/ Của ấy nào ai từng được chầy”. Ngoài ra danh lợi và phúc họa cũng được Nguyễn Trãi tự răn tự khuyên mình khi sống trên trường đời. Phúc họa theo ông là kết quả của luật nhân quả; danh lợi đi cùng đường thì gặp họa. Ông còn cho rằng sống có đức là sống có trách nhiệm với mọi người trong đó có con cái; con cái có hưởng được cái phúc cái đức không là do sự tích đức của mình để lại. Đây là một quan niêm đạo đức phật giáo hết sức tiến bộ: “Tích đức cho con hơn tích của” “Thong thả lại toan nào của tích/ Bạch mai vàng cúc để cho con” ”Tiền sen tích để bao nhiêu thúng/ Vàng cúc đem cho biết mấy bình”...Còn với người thì luôn luôn biết ơn những người cưu mang mình đem đến cho mình dù một niềm vui nho nhỏ; không bao giờ lấy oán trả ơn: “Nợ quân thân chưa báo được/ Hài hoa còn bợn dặm thanh vân” “Sinh con mới biết ơn cha mẹ” “Lòng một tấc đón còn ơn chúa” “Ở yên thì nhớ lòng xung đột/ Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”...  Nguyễn Trãi ngẫm mình trong từng bước đi của cuộc đời để rút ra được phương châm sống cho mình như thế là hết sức cao cả. Thế mới biết cây cổ thụ luôn tỏa bóng rộng.Có những lúc Nguyễn Trãi nói về số trời mệnh trời như một sự tất yếu dẫn đường cho số phận một con người. Ông lấy mệnh trời để tự răn mình tự an ủi mình từ đó để có một quan niệm sống một lối sống cho riêng mình. Theo ông trời là một “quan tòa” công minh một thế lực trong vũ trụ không có gì ngăn cản nổi. Vì vậy con người phải biết an phận không nên bon chen làm điều trái với đạo đức để hưởng lợi nhiều hơn kẻ khác sống trên thành quả lao động của người khác:Được thua phú quý dầu thiên mệnhLăn lóc làm chi cho nhọc nhằn.(Mạn thuật- bài số 5)Cho hay bỉ thái mới lề cũNếu có nghèo thì có an.(Bảo kính cảnh giới- bài 17)Nguyễn Trãi sống trong lòng chế độ phong kiến ông viết những dòng thơ trên là khi triều đình đang có những bất minh trong việc đối xử với những người tài những trung thần đã từng góp nhiều công sức và trí tuệ cho cuộc kháng chiến thắng lợi. Vì vậy ông tự răn mình tự an ủi mình nhưng đó cũng là thông điệp gửi cho mọi người gửi cho những kẻ vô ơn khi đã có được thành quả trong tay thì quên quá khứ. Đọc những dòng thơ viết về số trời định mệnh con người nhằm an ủi răn dạy đạo đức trên ta như nghe tiếng thở dài của Ức Trai vọng lại từ xa xưa- một “tiếng của cha ông thuở trước...” thật đáng đồng cảm.Bên cạnh khuyên mình răn mình là khuyên người răn người nên sống có đạo đức sống phải đạo sống đúng với đạo trời. Trước hết ông khuyên con người không nên có lòng tham không nên chạy theo vật chất một cách tầm thường. Bởi vì lòng tham biến con người trở nên bất nhân sống trên mồ hôi và nước mắt người khác; vật chất làm cho con người trở nên “bất an” nó có thể trở thành “cái bẫy” mình sa vào đó không biết chừng.Nguyễn Trãi khuyên:Lòng chẳng mắc tham là của báuNgười mà hết lụy ấy là tiên.(Tự thán- bài số 4)Hết kinh hết gìn bề tiến thoáiMựa tham mựa dại nết anh hùng.(Tự giới)Vì thế ông chủ trương: Trừ độc trừ tham trừ bạo ngượcCó nhân có chí có anh hùng.(Bảo kính cảnh giới- bài số 5)Ông cũng nhìn rất rõ: vật chất nếu rơi vào tay người tham thì nó sẽ dẫn con người đi đến đâu:Có của bo bo hằng chức củaOán người nơm nớp những âu người.(Bảo kính cảnh giới- bài số 11)Nô bộc có nhiều dân có khóCửa nhà càng rộng thế càng phiền.(Bảo kính cảnh giới- bài số 16)Ăn lộc nhà quan chịu việc quanChớ tham tiểu lợi phải gian nan.(Bảo kính cảnh giới- bài số 17)Nguyễn Trãi còng khuyên con người nên yêu lao động phải lao động để tự nuôi sống mình là một trong những thứ để “tích đức” tốt nhất bởi vì lao động làm cho con người trở nên lương thiện không sống trên nỗi đau của người khác:Kẻ khôn thì bảo kẻ ngây phàmNghề nghiệp cầm tay ở mới camNên thợ nên thầy vì có họcNo ăn no mặc bởi hay làm.(Bảo kính cảnh giới- bài sô 46)Muốn ăn trái dưỡng nên câyĂn học thì qua mựa lệ chầy(Bảo kính cảnh giới- bài số 10)Như vậy lao động và học hành làm cho con người sống có đạo đức. Không những vậy Nguyễn Trãi còn khuyên con người nên quí đạo đức trọng đạo đức hơn của cải. Muốn có đạo đức thì phải làm điều thiện “sống ở nhu hơn sống ở cương” sống có hiếu có khí tiết không uốn mình không cầu xin danh lợi không oán thán biết tha thứ cho người khác sống trong sạch lành mạnh thanh tịnh luôn nhận phần thiệt về mình thì mới “có an”. Chúng ta gặp những điều khuyên ở trên trong thơ của Ức Trai thật nhiều; mỗi dòng là một lời nhắn nhủ ân tình mộc mạc và cũng sâu sắc vô cùng. Người được khuyên nhủ vì thế không cho đó là giáo lý suông là khô cứng thiếu thực tế.Đặc biệt Nguyễn Trãi dành những dòng tâm huyết nhất để khuyên răn dạy dỗ con cái trong nhà. Ngoài những điều khuyên răn về đạo đức chung cho mọi người mà con cái cũng lấy đó để sửa mình Ức Trai có những bài viết riêng cho con cái. Ông dạy con sống tiết kiệm sống giản dị chăm làm lụng:Xa hoa lơ lãng nhiều hay hếtHà tiện đâu đang ít hãy cònÁo mặc miễn là cho cật ấmCơm ăn chẳng lọ kém mùi ngonXưa đà có câu truyền bảo:Làm biếng hay ăn lở núi non.(Dạy con trai)Ông còn dạy con phải biết chăm học học chữ thánh hiền học việc học bè bạn học làm người nên rộng lượng và rộng lòng:Chơi cùng đứa dại nên bầy dạiKết mấy người khôn học nết khônỞ đấng thấp thì nên đấng thấpĐen gần mực đỏ gần son.(Bảo kính cảnh giới- bài số 21)Bầu bạn cùng nhau nghĩa chớ vongNgười kia phú quí chớ quên lòng.(Bảo kính cảnh giới- bài số 51)Thờ cha lấy thảo làm phépGiúp chúa hằng ngay liễn cầnĐọc sách thì thông đòi nghĩa sáchĐem dân mựa nữa mất lòng dân.(Bảo kính cảnh giới- bài số 57)Không chỉ có thơ khuyên nhủ lòng mình răn dạy giáo dục con cái và mọi người một cách thấu tình đạt lí về đạo đức Nguyễn Trãi còn có những câu thơ nói về đạo đức luân thường đạo lí như là những câu tục ngữ hàm súc mang tính triết lí cao mà giàu hình ảnh nhịp điệu như là những lời sấm nguyền. Đó chính là những câu thơ nói về lẽ sống ở đời đạo làm người... được Nguyễn Trãi đúc rút từ cuộc sống mà mình đã trãi qua với nhiều chiêm nghiệm.
     Đọc những câu thơ Nguyễn Trãi đã làm cách ta những sáu trăm năm mà vẫn mới nguyên như chân lí: “Làm biếng hay ăn lở núi non” “Có đức thì hơn nữa có tài” “Của nhiều sơn dã đem nhau đến/ Khó ở kinh thành ít kẻ han” “Nếu có sâu thì bỏ canh” “Ở bầu thì dáng ắt nên tròn” “Đen gần mực đỏ gần son” “Của thết người là của còn/ Khó khăn phải đạo cháo càng ngon” ”Thế sự trai yêu gái mọn/ Nhân tình gái nhớ chồng xưa”... Đọc những câu thơ trên ta thấy Nguyễn Trãi như một ông Thánh ngồi ở trên cao nhìn xuống mặt đất mà viết ra những điều đã rõ mồn một về cuộc đời trong vòng quay của luân thường đạo lí. Phải là một người có “lòng sáng tựa sao khuê” có con “mắt xanh” nhìn thấu tương lai mới viết được những dòng thơ sống mãi với cuộc đời như vậy!Tuy có ảnh hưởng của tư tưởng Lão- Trang viết nên những câu thơ lánh đời lấy cái vi vô thanh tĩnh làm lẽ sống trong những khoảnh khắc nhất định; hoặc có thẩm thấu tư tưởng Đạo phật mà có những câu thơ gạt bỏ những tham vọng của con người song tất cả chỉ là thoáng qua tất cả chỉ là một cái cớ một sự “làm phép” để Nguyễn Trãi bộc lộ cái phần đạo đức sâu thẳm nhất của con người với tư tưởng Nho giáo luôn luôn muốn nhập thế để làm nên những điều nhân nghĩa cho con người. Ông cũng dạy mọi người như vậy. Và những lời dạy của Nguyễn Trãi đã sàng lọc qua thời gian đến nay hầu như tất cả vẫn còn mới và nguyên giá trị để cho chúng ta học tập làm theo.  

---------------------------------------------------------------------------

Nguồn: Tạp chí Văn học- Số 4- 2004
* Trần Đình Hượu- Nguyễn Trãi và Nho giáo NXB Khoa học Xã hội HN 1982
** Nguyễn Thiên Thu- Tư tưởng của Nguyễn Trãi Theo Nguyễn Trãi- Về tác gia và tác phẩm NXB Giáo dục NH 1999
*** Trần Đình Hượu- Sđd

 

More...

Lí luận phê bình văn học trong mùa lá rụng

By

Lí luận phê bình văn học trong mùa lá rụng

blogTrần Quang Đạo




Tôi không có ý định tách lí luận phê bình văn học ra bằng một dấu phẩy ở giữa bởi vì theo thiển nghĩ của tôi thì người làm lí luận văn học đúng nghĩa trước hết phải là người làm phê bình từ phê bình tác phẩm cụ thể cộng với nhiều khả năng tổng hợp từ nhiều nguồn thu nạp nhờ một bộ óc sáng tạo khác người mới đúc rút ra lí luận được. Cũng tương tự người làm phê bình văn học phải có lí luận mới thực sự phê bình được tác phẩm văn chương nếu không cái sản phẩm anh ta cho ra đời chỉ là một mớ hổ lốn nhà văn và bạn đọc quay mặt đi không tiếp nhận. Tuy nhiên tùy theo khả năng sở trường sở đoản của từng người mà người này trở thành nhà lí luận còn người kia trở thành nhà phê bình văn học. Nói vậy để tôi có cơ sở nhìn nhận tình hình lí luận văn học nước nhà thời gian qua trên một sự biện chứng qua lại trong tự thân của ngành này ngỏ hầu góp một số ý kiến đánh giá với nền lí luận phê bình văn học đang đặt ra nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp rõ ràng.

More...

Biến tấu nghệ thuật trong thơ Trần Quang Đạo

By

Biến tấu nghệ thuật trong thơ Trần Quang Đạo

blogHoàng Vũ Thuật

(Đọc Khúc biến tấu xương rồng - Trần Quang Đạo)



Nhà thơ Trần Quang Đạo chia Khúc biến tấu xương rồng làm ba phần. Ở phần mở đầu nhà thơ ngỏ ý nhắc nhở đừng bao giờ quên đi quá khứ quên đi Cánh đồng ngấy bùn với mùi rơm rạ từng nuôi ta khôn lớn. Cánh đồng là khởi thủy của đời người đời thơ Trần Quang Đạo.

More...

DI SẢN TÂM HỒN

By

blogDI SẢN TÂM HỒN

(Đọc Tháp Nghiêng - Thơ của Hoàng Vũ Thuật)

TRẦN QUANG ĐẠO





Trong giới văn chương bạn đọc bấy nay vẫn nghĩ về thơ và người của Hoàng Vũ Thuật là kiểu thơ kiểu người dung dị ấm áp chân tình. Bài thơ Con chim ri rí năm nào trở thành biệt danh để bạn bè gọi anh một cách trìu mến. Con chim ri rí nhỏ nhoi loại chim “đặc sản” của miền cát trắng Quảng Bình  hiền lành cần cù chịu khó bới móc nuôi mình và nuôi con trên bãi biển ngoài vời ngoài phá chung sống hoà bình với bao loài khác là một biểu tượng đẹp thầm kín trong lòng người . Thơ nằm lòng bạn đọc mà tạo được “thi nhân” cho mình như bài Con chim ri rí của Hoàng Vũ Thuật là một hạnh phúc.

 Thế nhưng Hoàng Vũ Thuật dường như chưa tự bằng lòng làm một con chim ri rí trên con đường sáng tạo. Anh luôn muốn vượt ra ngoài tầm trảng cát trắng ngoài vời ngoài phá quê hương không chỉ bằng đôi cánh nhỏ Con chim ri rí mà bằng đôi cánh “ Con chim côi sãi đôi cánh vàng và trái tim Lạc Việt bay bổng trí tưởng tượng với những suy nghĩ cấu tứ độc đáo qua thơ.

More...